Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Giáo Dục Gia Đình, Vài Nét Đẹp Mở Ngỏ Cho Tin Mừng

Dẫn nhập
"Tân Phúc Âm hóa" đã trở thành một đề tài quan trọng, được đề cập đến cách thường xuyên trong các văn kiện, cũng như trong các chuyến viếng thăm mục vụ của hai vị giáo hoàng gần đây, đặc biệt ở Mỹ châu Latinh và Âu châu. Ngày nay, "tân Phúc Âm hóa" đã trở thành chương trình mục vụ chung của toàn thể Giáo Hội Công giáo.Diễn ngữ "tân Phúc Âm hoá" được đức Gioan Phaolô II phát biểu lần đầu tiên trong chuyến viếng thăm mục vụ Ba Lan năm 1979. Chủ đề này được ngài lặp lại nhiều lần với ý nhấn mạnh rằng việc "tân Phúc Âm hóa" không đụng đến bản chất và nội dung của Tin Mừng, mà đúng hơn ám chỉ khả năng lãnh hội, lối trình bày, cách thế diễn tả Tin Mừng, cũng như công cuộc hội nhập văn hoá, đường lối sống Đạo và tinh thần dấn thân của các Kitô hữu.[1]

Trong bài này, người viết sẽ giới hạn đề tài trong phạm vi giáo dục gia đình. Truyền thống giáo dục trong gia đình Việt Nam có những nét nào khả dĩ cho công cuộc “tân Phúc Âm hoá”?
Truyền thống giáo dục Việt Nam có nhiều điểm đặc trưng. Đó là một nền giáo dục đặt nền tảng từ trong gia đình, nơi đó các thành viên noi theo gương mẫu của ông bà, cha mẹ, và bà con dòng họ. Nền giáo dục nhấn mạnh đến đạo nghĩa làm người hơn là tri thức. Nề nếp gia đình, gia phong lễ giáo, đạo làm con, v.v., là những nội dung lớn của giáo dục gia đình Việt Nam. Trong những nội dung này có nhiều yếu tố có thể là đối tượng cho công cuộc tân Phúc Âm hoá, nhất là đạo hiếu và việc kính nhớ ông bà tổ tiên. Tuy nhiên yếu tố sau cùng này là một nội dung lớn, cần được nghiên cứu riêng biệt nên người viết không đề cập đến trong bài viết này.

Sự Sống, Quà Tặng Và Trách Nhiệm


Đi vào hiện hữu, một quà tặng cao quí
Tôi từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Đó là những câu hỏi mà con người không ngừng tự đặt ra cho chính mình. Trong vũ trụ bao la đầy huyền bí này, con người chỉ là một sinh vật bé nhỏ nhưng cũng là “một cây sậy biết suy tư” (Pascal). Tố chất biết suy tư giúp cho con người không chỉ sống mà còn biết chiêm ngưỡng chính sự sống. Qua đó họ khám phá ra rằng sự sống chính là một huyền nhiệm.
Nhìn lại lịch sử cuộc đời chính mình, bạn sẽ phải thốt lên lời vui mừng và tạ ơn. Từ hư vô bạn đi vào hiện hữu. Nếu trong quá trình trên chỉ cần có một sự kiện nhỏ bị “lệch” đi thì có thể sẽ chẳng có bạn trên cõi đời này. Có những giây phút rất ngắn ngủi nhưng lại rất quan trọng như là giây phút bố mẹ bạn gặp nhau và quyết định hôn nhân; là giây phút một tinh trùng (trong khoảng 300 – 500 ngàn tinh trùng) kết hợp với trứng; là quá trình hình thành cơ thể trong bụng mẹ; v.v.. Sự có mặt của bạn trên cõi đời này là kết quả của những quá trình sinh học phức tạp và hoàn hảo mà cho đến ngày nay khoa học_dù tiến bộ rất nhanh_ cũng không thể nào thấu hiểu hết được. Đứng trước những huyền nhiệm đó, con người chỉ biết hướng nhìn lên Thượng Đế mà thán phục vả cảm tạ.

Có lẽ Dothái là dân tộc sớm nhận biết và đặt cuộc đời mình dưới sự che chở và hướng dẫn của Đấng Tạo Hóa. Những lời sau đây của Tiên tri Isaia từ thế kỷ thứ VIII TCN vẫn còn âm hưởng cho đến ngày nay:

Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây,
hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý:
Đức Chúa đã gọi tôi
từ khi tôi còn trong lòng mẹ,
lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi. (Is 49,1)

Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh (1Tx 4,3)

Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh (1Tx 4,3)

Những người khao khát tìm Chúa vẫn luôn tự hỏi: Đâu là ý Chúa trong cuộc đời mình? Đó là câu hỏi rất riêng tư giúp mỗi người tìm ra ý nghĩa của đời mình. Mỗi người phải tự khám phá ơn gọi riêng của mình nhờ ơn soi sáng của Thần Khí Chúa. Thế nhưng mọi câu trả lời đều phải đặt trên nền tảng ơn gọi nên thánh. Nên thánh là ơn gọi chung của mọi Ki-tô hữu vì Thiên Chúa là Đấng Thánh, vì Giáo hội có đặc tính thánh thiện, vì cùng đích ơn gọi của mỗi người là sống tháh thiện trong tình yêu Chúa.

Lạy Chúa, khuynh hướng nói chung của con người là từ bỏ những gì chính yếu để theo đuổi những gì phụ thuộc như thánh Âu-tinh đã tâm sự: Chúa ở trong con nhưng con lại đi tìm Chúa ở bên ngoài! Nhiều người long đong vất vả cả đời chỉ để tìm kiếm những gì rất tạm bợ, có người đầu tư rất nhiều cho một tương lai bất định trong khi sự sống đời đời chắc chắn sẽ đến thì họ lại quên mất, có những người dễ dàng buông thả đời mình trong những cơn say chóng qua mà quên say mê Chân Thiện Mỹ đích thực. Còn nhiều lắm những ước muốn phàm tục đang ngày ngày che lấp những giá trị vĩnh cửu.


Xin Chúa mở mắt cho mỗi người chúng con, cho chúng con nhận ra đâu là những gía trị đích thực giúp chúng con tích góp hành trang đích thực để tiến về quê trời. Xin Chúa giúp con biết xây dựng cuộc đời mình trên nền tảng là ơn gọi nên thánh để mỗi ngày chúng con càng nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng Hoàn Thiện. Amen.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Hãy mở cánh cửa!


Làm thế nào để tăng trưởng đức tin của bạn trong suốt Năm Đức Tin này?
Lược dịch bài viết tại http://wau.org/archives/article/open_the_door/

Khi thông báo về Năm Đức Tin vào tháng Mười vừa qua, Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI quả quyết với chúng ta rằng “cánh cửa đức tin luôn mở cho chúng ta… chúng ta có thể bước qua ngưỡng cửa đó khi lời của Thiên Chúa được công bố và tâm hồn chúng ta được định dạng theo sự biến đổi của ân sủng”.
Hãy suy nghĩ về những lời đầy khích lệ này! Có những cánh cửa luôn mở. Có vài cánh cửa mở rất dễ dàng. Nhưng cũng có những cánh cửa khác đòi hỏi nhiều thách thức hơn. Đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, sự nhẫn nại và nỗ lực.
Theo một nghĩa nào đó, việc mở cánh cửa đức tin vừa đơn giản vừa không thể đoán trước. Nó đơn giản như việc ta nói “xin vâng” với Thiên Chúa nhưng cùng lúc đó chúng ta kinh ngạc khi thấy đường lối “xin vâng” này hoạt động trên chúng ta. Hãy nhìn gương các vị truyền giáo, các tông đồ, các vị tử đạo và những vị thánh khác trong lịch sử!
Nhưng không có gì bất ngờ chờ đợi chúng ta phía sau cánh cửa đức tin, chúng ta có thể trả lời người khác rằng: Đức Giê-su đã sẵn sàng ở đó để chờ đón chúng ta. Và còn tuyệt vời hơn nữa, Người cất bước cùng ta dọc theo hành trình đức tin.
Đức tin của con đã cứu con: Chúng ta sẽ dừng lại ở lời nói đầy khích lệ mà Đức Giê-su đã nói với bốn người đã đi qua cánh cửa này: “Đức tin của con đã cứu con”. Những người này là anh mù tên Ba-ti-mê (Mc 10,52), người phụ nữ bị băng huyết (Mt 9,22), người phong hủi Samari (Lc 17,19) và người phụ nữ tội lỗi (Lc 7,50). Chúng ta thử xem bằng cách nào họ đã đi qua cánh cửa và ở bên kia cánh cửa, Đức Giê-su trao cho họ điều gì. Có thể những câu chuyện của họ sẽ giúp chúng ta khi chúng ta đi qua cánh cửa đức tin của mình mỗi ngày!
Điều trước hết chúng ta có thể nhìn thấy trong mỗi câu chuyện trên là cách thức Đức Giê-su chọn những người này và khen ngợi lòng tin cũng như sự chân thành của họ (thường tương phản với những người xung quanh, những người dường như không cho thấy một lòng tin như thế). Dường như loại lòng tin mà lôi kéo được sự chú ý của Đức Giê-su cũng chính là lòng tin khiến cho người ta tiến đến với Người. Nó khiến người ta ra khỏi đường lối của chính mình và thậm chí có thể là nguyên do họ có mặt ở đó.
Những ai có lòng tin này trước hết có thể tìm thấy một sự chữa lành đặc biệt, nhưng thỉnh thoảng những điều khác nữa cũng có thể xảy ra theo cách này. Không chỉ thể lý được chữa lành nhưng cả những trái tim cũng được chữa lành. Không chỉ mặc cảm tội lỗi được chữa lành nhưng ký ức của họ cũng được chữa lành. Vì vậy, khi bạn nhìn vào mỗi câu chuyện này, hãy tự hỏi “lòng tin của tôi có đưa tôi đến gần Đức Giê-su không? Khi đến gần Đức Giê-su tôi cảm thấy thế nào?”
Ba-ti-mê (Mc 10,46-52): Bệnh mù lòa ngày nay hầu như không thảm khốc như thời Đức Giê-su. Những người mù có thể được thấy trở lại và họ có thể tìm được một việc làm để kiếm sống. Trừ khi không được gia đình chăm sóc, họ mới phải đi nài xin bất kỳ sự giúp đỡ nào có thể. Điều này giống với Ba-ti-mê: ngồi ăn xin bên vệ đường khi Đức Giê-su và các môn đệ đi ngang qua.
Khi Ba-ti-mê cảm nhận được sự xôi động do Đức Giê-su và đám đông theo Người gây ra, anh đã la lớn “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” Khi biết đó chỉ là một người ăn xin, nhiều người trong đám đông đã cố gắng bảo anh im đi. Nhưng điều đó chỉ làm cho anh ta thêm cương quyết. Và anh la to hơn! Đức Giê-su dừng lại, gọi Ba-ti-mê đến và hỏi anh muốn gì. Anh ta trả lời “Thưa Thầy, tôi muốn được thấy”. Khi đó, Đức Giê-su nói những lời này: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh”.
Sự tương phản giữa Ba-ti-mê và đám đông là khá nổi bật. Anh không bị từ chối. Anh đã tin. Anh đã kêu lên. Anh đã nói với Đức Giê-su chính xác điều anh cần. Như một kết quả, anh đã được tưởng thưởng. Lòng tin của anh đã giúp anh được cứu và sự chữa lành.
Người phụ nữ bị băng huyết (Mc 5,21-43): Cô ta đã chịu cảnh băng huyết đã 12 năm và không ai có thể giúp cô. Nhưng khi nghe Đức Giê-su đang đi ngang qua thị trấn của mình, cô đã đi tìm Người. Cô nghĩ “nếu tôi có thể chạm vào áo của Người, tôi sẽ được cứu”. Vì thế cô lách qua đám đông và chạm vào áo choàng của Người. Ngay tập tức cô được chữa lành!
Biết rằng có một năng lực nơi mình phát ra, Đức Giê-su quay lại đám đông và hỏi: “Ai đã chạm vào tôi?” Người phụ nữ tiến đến và nói với Đức Giê-su những gì đã xảy ra và Đức Giê-su đã nói với cô: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con”.
Hãy suy nghĩ về sự khác nhau giữa người phụ nữ này với những người khác, những người đã phải chen lấn với Đức Giê-su khi cùng đi với Người. Về thể lý, họ gần Đức Giê-su hơn người phụ nữ. Nhưng sự gần gũi thể lý không giống sự gần gũi Thiên Chúa trong đức tin. Qua đức tin, chúng ta có thể nối kết với ân sủng, điều luôn có nơi Đức Giê-su, ân sủng mang lại sức mạnh, sự chữa lành, các nhân đức. Giống như Ba-ti-mê, người phụ nữ này mời gọi chúng ta tiến về Đức Giê-su, tin rằng Người có quyền năng mà chúng ta đang cần.
Người phụ nữ “tội lỗi” (Lc 7,36-50): Simon, một người Pharisêu đã mời Đức Giê-su ăn tối cùng với vài người bạn của ông. Mọi thứ đang tiếp diễn tốt đẹp cho đến khi một người phụ nữ nổi tiếng xấu xa xuất hiện dù không được mời. Cô ta đứng bên cạnh Đức Giê-su, nước mắt rơi trên chân Người. Sau đó cô cúi xuống, lấy tóc lau chân Người và lấy lọ dầu quý giá mà xức.

Cử chỉ này đã đánh động Đức Giê-su lẫn ông Simon. Về phần mình, ông Simon có ý khinh Đức Giê-su, ông kinh ngạc bởi làm thế nào một ngôn sứ lại cho phép một người phụ nữ như thế chạm vào người mình. Thế nhưng, Đức Giê-su nhìn thấy tình yêu và thái độ ẩn bên trong hành động của người phụ nữ, Người nói với cô ta: “Lòng tin của chị đã cứu chị”.
Sự tương phản giữa người phụ nữ tội lỗi và ông Simon cũng khá rõ ràng. Ông Simon muốn nói với Đức Giê-su. Có lẽ ông muốn hiểu biết thêm về Người cũng như những lời giảng dạy của Người. Nhưng sau tối hôm đó những nghi ngờ của ông vẫn còn đọng lại, thậm chí còn tăng thêm nữa.
Còn người phụ nữ thì không đến để trò chuyện. Cô ta vào nhà, nơi cô biết rằng mình không được chào đón, vì vậy cô đã chạm đến ân sủng của Đức Giê-su bằng cách ở với Người. Nếu có cô ta ở đây lúc này, cô sẽ nói với chúng ta rằng: “Hãy đến với Đức Giê-su và xưng thú tội lỗi của mình. Người giàu lòng thương xót. Chính tôi là một bằng chứng, không có tội nào là không thể tha thứ”.
Người phong hủi Samari (Lc 17,11-19): Câu chuyện này có chút khác biệt với những câu chuyện khác, mười người phong hủi đều được chữa lành, và cả mười người làm theo lời của Đức Giê-su khi đi trình diện các tư tế theo luật Môsê. Tất cả họ đều được hội nhập vào xã hội, và hầu hết có lẽ đã trở về với gia đình và bắt đầu lại nếp sống cũ. Nhưng một trong mười người đó quay trở lại ngợi khen và cảm ơn Đức Giê-su vì Người đã chữa lành anh. Anh ta lại là một người Samari.
Dường như chỉ có một người này được Đức Giê-su nói là “Lòng tin của anh đã cứu anh”. Rõ ràng là anh ta đã kinh nghiệm được một điều gì đó hơn cả sự chữa lành thể lý.
Câu chuyện này nói với chúng ta rằng “được chữa lành” không luôn luôn là “được tất cả”. Người thanh niên này đã kinh nghiệm được cả hai, và đó là lý do tại sao anh ta quay trở lại. Nếu anh ta ở đây với chúng ta hôm nay, anh ta sẽ nói với chúng ta “sự chữa lành thể lý thì tốt nhưng sự chữa lành tâm linh thì tốt hơn”.
Sự táo bạo của những đứa trẻ: Cả bốn người này đã bước qua cánh cửa đức tin và tất cả đã được tưởng thưởng. Theo cách này, Đức Giê-su muốn khích lệ chúng ta hãy đi qua cánh cửa và hãy tin trong suốt Năm Đức Tin này. Đức tin của chúng ta nhiều hay ít không thành vấn đề, Người đang mời gọi chúng ta hãy táo bạo giống như bốn người này khi chúng ta bước tới phía trước.
Có lẽ cùng vì đó mà Đức Giê-su mời gọi chúng ta hãy đến với Người như những đứa trẻ. Những đứa trẻ có thể rất táo bạo - thậm chí dai dẳng -  với bố mẹ của chúng. Chúng không ngần ngại yêu cầu suốt ngày. Chúng sẽ dùng mọi cách có thể để đạt được điều chúng muốn. Khi bố mẹ chúng nói “không”, chúng chỉ nhượng bộ tạm thời và sau đó lại tiếp tục đòi hỏi.
Vì vậy, hãy giống như một đứa trẻ. Hãy kiên trì. Hãy táo bạo. Đừng ngại yêu cầu Đức Giê-su điều gì.
Hãy giống như Ba-ti-mê và la lên với Đức Giê-su.
Hãy giống như người phụ nữ bị băng huyết và hãy tiến đến với Đức Giê-su.
Hãy giống như người phụ nữ tội lỗi và nói với Đức Giê-su rằng bạn yêu mếnbiết ơn Người nhiều như thế nào vì lòng thương xót và tình yêu của Người.
Hãy giống như người phong hủi Samari và quỳ xuống dưới chân Người để thờ phượngtôn vinh Người.
Nếu bạn làm thế, bạn sẽ nghe Đức Giê-su nói những lời tốt đẹp này: “Lòng tin của con đã cứu con”.


Tầm quan trọng của Bí tích và Á bí tích trong đời sống người tín hữu


Chúng ta đang sống trong một xã hội đề cao tính tiêu thụ và thực dụng. Chính vì vậy người kitô hữu, nhất là giới trẻ đang ngày càng thờ ơ với đời sống đức tin. Việc cử hành phụng vụ và các bí tích dường như chẳng còn ý nghĩa gì đối với họ. Trong hoàn cảnh đó, thiết nghĩ việc giúp các bạn trẻ khám phá lại chiều kích thiêng liêng cũng như tầm quan trọng của các cử hành bí tích và á bí tích là hết sức cần thiết. Nhưng trước hết cần tìm hiểu và phân biệt lại giữa bí tích và á bí tích.

1         Bí tích và á bí tích

1.1                      Định nghĩa

Theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công giáo: “Các bí tích là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng do Chúa Kitô thiết lập và uỷ thác cho Hội thánh. Qua bí tích, Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống thần linh. Các nghi thức hữu hình dùng để cử hành bí tích, biểu thị và thực hiện ân sủng riêng của từng bí tích. Các bí tích sinh hiệu qủa nơi những người lãnh nhận hội đủ điều kiện” (số 1131). Như thế có thể hiểu cách đơn giản rằng: Bí tích là dấu chỉ bề ngoài, chuyển thông ơn cứu độ bên trong.
Còn Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh thì đưa ra định nghĩa về á bí tích như sau: “Giáo Hội Mẹ Thánh còn thiết lập những á bí tích. Đó là những dấu chỉ thánh, vì một phần nào phỏng theo những bí tích, nhờ đó biểu trưng những hiệu quả - nhất là những hiệu quả thiêng liêng - và thông ban hiệu quả đó nhờ sự bầu cử của Hội Thánh. Nhờ các á bí tích, con người được chuẩn bị lãnh nhận hiệu quả chính yếu của các bí tích và thánh hóa những hoàn cảnh khác biệt trong cuộc sống” (SC 60).

1.2                      Phân biệt

Như thế, các bí tích là do chính Chúa Kitô thiết lập và chỉ có đúng 7 bí tích mà thôi. Qua các bí tích ta nhận được sự sống thần linh, tức là chính ơn Chúa Thánh Thần. Trong khi đó, các á bí tích là do Hội thánh thiết lập và có nhiều loại khác nhau. Các á bí tích không ban ơn Chúa Thánh Thần nhưng chuẩn bị tâm hồn để tín hữu đón nhận và cộng tác với ân sủng đồng thời thánh hoá các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.

2         Tầm quan trọng việc cử hành bí tích và á bí tích

2.1                      Là nhu cầu không thể thiếu

Bí tích là dấu chỉ hữu hình để diễn tả và chuyển thông ân sủng vô hình cho con người, vì chính Đức Giêsu hành động trong bí tích nhờ Thánh Thần của Ngài (Xc. SC 7). Chính vì thế công đồng Trento khẳng định: để được ơn cứu độ người Kitô hữu cần đến các bí tích của Giao Ước mới. Bởi qua các bí tích, Ân sủng bí tích là ơn Chúa Thánh Thần chữa lành và biến đổi người lãnh nhận, làm cho họ nên con cái Thiên Chúa, giúp họ được kết hợp với Đấng Cứu Độ, và được tham dự vào sự sống của chính Thiên Chúa (Xc. GLHTCG 1129).
Thực vậy, Đức Giêsu đến mạc khải cho ta biết Thiên Chúa là Cha. Qua cái chết và cuộc Phục sinh, Ngài đã thông ban cho ta sự sống thần linh và mở ra cho con người cánh cửa bước vào sự sống vĩnh cửu. Hơn nữa, trong cuộc đời dương thế Đức Giêsu đã từng chữa lành bệnh tật, xoa dịu khổ đau, thứ tha tội lỗi cho con người thì nay Ngài vẫn tiếp tục ở với chúng ta qua các bí tích. Chính vì vậy bí tích là những tác động của Chúa Kitô hiện tại hóa công việc cứu chuộc của Ngài để áp dụng hiệu quả của nó cho các linh hồn. Bởi lòng thương yêu lạ lùng, Đức Kitô đã chịu treo trên thập giá và từ cạnh sườn bị đâm thâu, Người đã đổ máu và nước ra, từ đó phát sinh các Bí tích của Hội thánh. Như thế, chính bởi lòng yêu thương vô ngần của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu Kitô đã thiết lập các bí tích để hết thảy những ai tin nhận thì đều được hưởng ơn cứu độ từ nguồn Bí tích đó. Ngày nay, mỗi khi cử hành các bí tích, chúng ta không chỉ tưởng niệm lại một biến cố đã diễn ra trong quá khứ nhưng là hiện tại hoá hành động yêu thương đó của Thiên Chúa.
Thánh lễ và việc cử hành các bí tích là đỉnh cao của đời sống người kitô hữu. Các bí tích được ví như là máng thông ơn qua đó chúng ta lãnh nhận ơn Chúa thánh Thần như nguồn sức sống thần linh cho linh hồn. Chính vì thế việc tham dự và lãnh nhận các bí tích là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống người kitô hữu. Các bí tích được sắp xếp để người tín hữu có thể lãnh nhận trong suốt cuộc đời, nhất là trong những biến cố quan trọng của cuộc sống. Có thể nói các bí tích và á bí tích như là nguồn lương thực nuôi dưỡng và là các phương thế để thánh hoá cuộc đời người tín hữu.

2.2                      Là lương thực nuôi dưỡng

Bảy bí tích trải dọc cuộc đời con người và thánh hoá những thời điểm quan trọng nhất: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, lìa đời, v.v.. Với các bí tích khai tâm người Kitô hữu được kiện toàn trong đức tin, gia tăng trong đức cậy và lớn mạnh trong đức mến. Các bí tích còn chữa lành những thương tích thiêng liêng trong linh hồn, hơn nữa còn góp phần thăng tiến cộng đoàn. Như thế có một sự tương tự nào đó giữa những chặng đường trong đời sống tự nhiên và trong đời sống siêu nhiên. (x. Th. Toma Aq., S.Th. 3,65,1).
Giai đoạn đầu đời
Giai đoạn đầu đời con người được sinh ra, được chăm sóc nhờ bàn tay yêu thương của mọi người đề từ đó dần dần tạo nên căn tính xác định cho mình. Dấu ấn đầu tiên chính là bí tích Rửa Tội. Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta trở thành một thành viên trong gia đình Giáo hội. Như thế ta được mời gọi liên kết với các thành viên khác bằng mối dây của bác ái và ân sủng. Mỗi thành viên được ví như một chi thể trong một thân thể. Và như thế, mọi chi thể đều được nuôi dưỡng bằng một nguồn sự sống đang lưu chuyển trong thân thể ấy. Bí tích Thánh Thể cho ta thấy mối day liên kết này cách rõ nét nhất.
Sự sống tự nhiên cần bánh ăn nuôi dưỡng thế nào thì đời sống siêu nhiên cũng cần lương thực nuôi sống như vậy. Chính vì thế qua bí tích Thánh Thể, chúng ta sẽ nhận được tấm bánh của sự sống vĩnh cửu để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng. Cũng trong bí tích Thánh Thể, các chi thể của Hội thánh cùng chia sẻ và cùng được nuôi dưỡng bởi một tấm bánh duy nhất là thân mình Đức Giêsu kitô. Bí tích thánh Thể chính là lương thực nuôi sống linh hồn trên hành trình dương thế này trong khi chờ đợi ngày chúng ta được kết hiệp trọn vẹn với Đức Kitô trên Thiên Quốc.
Khi mới được tái sinh, người tín hữu còn cần sự bao bộc, nâng đỡ của cộng đoàn nhưng họ không thể cậy dựa vào cộng đoàn mãi. Đến một lúc nào đó tự bản thân họ cần phải đứng lên, ra đi trên chính đôi chân của mình. Hơn nữa họ còn phải thi hành sứ vụ chứng tá của mình. Để giúp đạt được điều đó chúng ta có bí tích Thêm Sức. Nhờ bí tích này, người tín hữu lãnh nhận Chúa Thánh Thần cách đặc biệt để nên hoàn trọn hơn trong đời sống cũng như làm chứng cho sự sống mới đã lãnh nhận qua bí tích Rửa Tội. Đó là ba bí tích quan trọng hơn cả trong việc kiến tạo nên căn tính của người kitô hữu. Ngoài hai bí tích này, chúng ta Chuùaần khoângể đến hai bí tích được xem như là phương dược chữa lành linh hồn người tín hữu. đó là bí tích Hoà Giải và Xức Dầu Bệnh Nhân.
Hai phương thuốc chữa lành
Ngoài việc xác lập một căn tính rõ ràng, đời sống chúng ta đôi khi gặp những thử thách khó khăn, khô khan nguội lạnh hay thậm chí là những “vết thương” nơi linh hồn. Vậy để được sống cách sung mãn chúng ta cần chữa lành những “vết thương” đó. Vì thế bí tích Hoà Giải sẽ giúp ta giao hoà với Thiên Chúa và nối lại tương quan với tha nhân. Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân sẽ giúp người bệnh vững tin vào tình thương của Thiên Chúa nhờ đó vượt qua những yếu đuối của phận người. Chính vì thế đây cũng là hai bí tích quan trọng để nâng đỡ người tín hữu trong cuộc lữ hành đức tin của mình.
Thăng tiến xã hội
Bên cạnh những gì liên quan đến đời sống cá nhân, con người còn sống trong xã hội và do đó cần có tương quan, có tổ chức và xã hội cần phát triển không ngừng. Một cách nào đó hai bí tích cuối cần thiết để thực hiện các chức năng này. Bí tích Truyền Chức Thánh sẽ giúp Giáo hội có những người kế vị tông đồ Phêrô cũng như những cộng sự viên của các ngài để thi hành ba chức năng giảng dạy, thánh hoá và quản trị. Bí tích Hôn Phối là nơi nuôi dưỡng tình yêu và làm phát sinh sự sống. Chính qua bí tích này Đức Kitô thánh hoá tình yêu phu phụ và nhờ đó Hội thánh ngày càng được phát triển lan rộng.
Bên cạnh các bí tích, các á bí tích cũng rất cần thiết cho đời sống chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi nên thánh mỗi ngày. Các á bí tích sẽ giúp ta trong việc đón nhận ơn thánh cũng như giúp thánh hoá hầu hết các biến cố trong cuộc đời. Đồng thời các á bí tích còn thánh hoá các đồ vật ta sử dụng với mục đích thánh hoá con người và ca tụng Thiên Chúa.

2.3                      Là phương tiện thánh hoá

Hiến chế Phụng vụ nói rõ: phụng vụ các bí tích và á bí tích giúp các tín hữu chuẩn bị chu đáo để hầu hết mọi biến cố trong đời sống sẽ được thánh hóa nhờ thánh ân xuất phát từ mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô chịu thương khó, chịu chết và sống lại, vì Người là nguồn mạch ban năng lực cho tất cả các bí tích và á bí tích. Hầu như không có việc sử dụng của cải vật chất một cách chính đáng nào lại không đưa tới mục đích thánh hóa con người và ca khen Thiên Chúa (Xc. SC 61). Như thế bí tích và á bí tích chính là những phương thế để giúp thánh hoá bản thân và nhờ đó người kitô hữu thánh hoá thế giới nhờ sự hiện diện của mình.
Qua việc thánh hoá bản thân và thế giới, các bí tích còn giúp xây dựng thân thể Chúa Kitô qua việc cử hành như là hành vi thờ phượng đích thực.

2.4                      Là hành vi thờ phượng đích thực

Việc cử hành các bí tích và á bí tích còn là hành vi thờ phượng đích thực của người tín hữu. Qua đó ta công nhận và cao rao những hồng ân của Thiên Chúa, tuyên dương sự cao cả và tình thương vô biên của Ngài. Cử hành bí tích là tạ ơn về tất cả những gì Ngài đã và còn đang làm để cứu độ chúng ta. Tắt một lời, khi cử hành bí tích là ta thờ phượng Thiên Chúa như Ngài đáng được thờ phượng.
Vì coi bí tích là những hành động phụng tự qua đó ta tôn thờ Chúa một cách trọn hảo và xứng đáng, chúng ta sẽ không còn coi việc cử hành bí tích như là một việc chỉ liên hệ tới những người nhận lãnh, nhưng sẽ ý thức được đó là việc phụng thờ của toàn thể Giáo Hội. Việc tham dự không chỉ với mục đích duy nhất là cầu nguyện cho những người nhận lãnh bí tích, nhưng để tôn thờ và ca vinh Thiên Chúa cũng như để thánh hóa chính bản thân mình. Vì như Công đồng đã nói, bí tích không những giả thiết đức tin mà còn nuôi dưỡng đức tin nữa; không những chỉ ban ơn, nhưng còn giữ vai trò giáo huấn nữa (Xc. SC 59).
Ngoài những tầm quan trọng đã nêu ở trên, việc cử hành các bí tích còn hướng chúng ta đến sự sống vĩnh cửu trên Thiên Quốc. Quả thật, ơn cứu độ của chúng ta chỉ được hoàn tất trong ngày cánh chung, khi chúng ta đã được kết hợp với Thiên Chúa cách trọn vẹn. Vì thế khi tham dự việc cử hành các bí tích nói riêng và cử hành Phụng vụ nói chung, “chúng ta hợp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh ca ngợi tôn vinh Chúa: trong khi kính nhớ các Thánh, chúng ta hy vọng được thông phần và đoàn tụ với các Ngài; chúng ta mong đợi Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, cho đến khi chính Người là sự sống chúng ta sẽ xuất hiện và chúng ta cũng sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang” (SC 8). Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1130 cũng dạy rằng: Trong các bí tích của Chúa Kitô, Hội Thánh nhận được bảo chứng gia nghiệp của Người, đã dự phần vào đời sống vĩnh cửu, đang khi “chờ đợi ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu là Thiên Chúa vĩ  đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2,13). Như thế chính qua việc cử hành các bí tích ta đã thông hiệp vào sự sống vĩnh cửu trên Thiên quốc. Các bí tích là lương thực, là của ăn đàng để trợ lực cho ta trên con đường hướng về sự sống vĩnh cửu.
Kết luận
Tóm lại, các bí tích biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa. Do đó, việc tham gia các cử hành bí tích giữ một vai trò quan trọng trong đời sống người tín hữu. Các bí tích ban ơn thánh hoá để giữ gìn và nuôi dưỡng, giúp chúng ta đi trọn hành trình dương thế để tiến về vương quốc vĩnh cửu, nơi ta sẽ được kết hợp trọn vẹn với Đấng hằng yêu mến chúng ta. Các bí tích còn là nơi ta tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, qua đó ta biểu lộ các tâm tình chúc tụng, tạ ơn và thờ phượng. Đây vừa là bổn phận vừa là niềm vinh dự cho chúng ta. Như thế các bí tích và á bí tích không chỉ thực sự cần thiết cho đời sống mỗi người mà qua đó ta còn góp phần xây dựng thân thể Giáo hội mà Chúa Kitô chính là đầu của Thân thể Mầu nhiệm đó.




Chiều kích liên đới trong Bí tích Thánh Thể


Trong bữa tiệc ly, Đức Giê-su đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ. Một loạt những hành động của Đức Giê-su được thực hiện trên một tấm bánh. Cùng một tấm bánh, Người đã bẻ ra và trao cho các môn đệ. Cũng vậy, từ một chén rượu, Đức Giê-su cũng thánh hóa và trao cho các ông. Hành động “bẻ ra” và “trao” cho thấy tất cả các môn đệ đều liên đới với nhau và cùng liên đới với Thầy chí thánh của mình. Lời dặn dò: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19) như là lời nhắc nhở “anh em” hãy liên đới với nhau qua việc làm này để qua đó liên đới với Thầy và nhờ việc này mà liên đới với tất cả mọi người. Đó cũng chính là ba chiều kích của sự liên đới trong bí tích cực trọng này.
Chiều kích liên đới với Đức Giê-su trong bí tích Thánh Thể là một chiều kích lớn, và mang tính kết hiệp, thông hiệp nhiều hơn là liên đới. Thực vậy, với Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi kết hiệp với Người qua việc rước Mình và Máu Thánh; với “anh em” chúng ta được nhắc nhở đến chiều kích hiệp thông trong những chi thể của cùng một thân thể; nhưng với những “người ngoài” thì chúng ta được mời gọi liên đới với họ trong tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ hơn là sự hiệp thông. Do đó bài viết này chủ yếu suy tư về hai chiều kích còn lại, liên đới giữa các “anh em” với nhau và liên đới giữa “anh em” với “người ngoài”. Hơn nữa hai chiều kích này không được suy tư cách riêng biệt nhưng được lồng ghép vào nhau và phân thành hai mục, đó là liên đới với những người nghèo cũng như liên đới với những người vắng mặt.
1.      Liên đới với người nghèo
Trước hết, bí tích Thánh Thể là bí tích liên đới với những người nghèo, những người nghèo thực sự, cái nghèo của vật chất, của cơm ăn áo mặc và đây là cái nghèo của phần đông nhân loại đang phải trải qua trong cuộc sống hàng ngày hiện nay. Làm sao để bí tích Thánh Thể làm cho những người nghèo cảm thấy no đủ?
Trong phép lạ Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất (x. Mt 14, 13-21), khi thấy dân chúng đi theo rất đông nhưng họ không có gì ăn, các môn đệ đưa ra một giải pháp là giải tán đám đông, về họ vào các làng mạc mà tự kiếm lấy thức ăn. Đây có thể xem là một giải pháp khôn ngoan nhưng Đức Giê-su không đồng ý, Ngài đề nghị một giải pháp mang tính liên đới hơn, đó là chính anh em hãy cho họ ăn. Giải pháp này làm cho các ông băn khoăn vì các ông chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá. Nhưng liên đới là vậy. Sự liên đới không bao giờ một một giải pháp dễ dàng. Nó đòi hỏi mỗi người phải dấn thân, phải có trách nhiệm và thậm chí chịu liên lụy với người cần được liên đới. Sự liên đới đòi hỏi rất nhiều nhưng không hề gì, vì có Đức Giê-su ở giữa họ.
Mặc dù bữa tiệc ly năm xưa là bữa ăn riêng của Đức Giê-su và các Tông đồ với nhau, thế nhưng ý nghĩa của bữa ăn không chỉ dừng lại ở đó mà thôi. Đúng hơn, đó là bữa ăn mà Đức Giê-su đã thiết lập để các môn đệ (những người tin qua các thế hệ) tiếp tục cử hành trong sự hiệp thông và liên đới với nhau. Nếu như khi còn sống trên dương gian, Đức Giê-su quan tâm đến những người nghèo như thế nào thì khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Đức Giê-su cũng ưu tiên cho người nghèo như vậy. Trong bí tích Thánh Thể, mọi người phải liên đới với nhau và người nghèo phải là đối tượng ưu tiên của sự liên đới đó.
Các môn đệ ý thức được điều đó nhưng không phải luôn thực hiện được như vậy. Thực vậy, đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô Tông đồ gửi cho các tin hữu ở Cô-rin-tô ta sẽ thấy rõ hoàn cảnh của cộng đoàn lúc ấy. Các tín hữu họp nhau trong lễ Bẻ bánh, khi đi họ mang theo đồ ăn. Thay vì phải chia sẻ của ăn cho nhau, nhất là những người nghèo thì họ lại tụ tập với nhau theo tính cục bộ, những người có của với những người có của. Kết cục là những người giàu có thì ăn uông linh đình còn những người túng thiếu thì bị mặc cảm và bị loại ra ngoài. Chính vì thế mà thánh Phao-lô đã khiển trách với những lời lẻ rất mạnh. Ngài nói “Thaät vaäy, moãi ngöôøi lo aên böõa rieâng cuûa mình tröôùc, vaø nhö theá, keû thì ñoùi, ngöôøi laïi say. Anh em khoâng coù nhaø ñeå aên uoáng sao? Hay anh em khinh deå Hoäi Thaùnh cuûa Thieân Chuùa vaø laøm nhuïc nhöõng ngöôøi khoâng coù cuûa? Cho neân, thöa anh em, khi hoïp nhau ñeå duøng böõa, anh em haõy ñôïi nhau. Ai ñoùi, thì aên ôû nhaø, keûo anh em ñeán hoïp maø hoaù ra ñeå bò keát aùn” 1Cr 11, 21-34. Như thế ngài nói thật “bất xứng” khi một cộng đoàn Ki-tô hữu cùng tham dự vào bữa ăn của Chúa trong sự chia rẽ và dửng dưng đối với người nghèo.
Đến thời các Giáo phụ, các ngài vẫn nhấn mạnh đến việc phải liên đới với người nghèo cũng như phải chăm sóc họ cách đặc biệt. Về việc phân phát cho người nghèo, thánh Justinô nói: “Những ai dư giả, sẽ ban phát cho kẻ khác tùy nhu cầu. Tất cả những gì thu nhận được đều được đem đến cho vị chủ tọa. Ngài sẽ giúp đỡ các trẻ mồ côi và các bà góa, di dân, tù nhân túng thiếu … và những ai cần đến như người bệnh hoạn hay vì những lý do khác. Tóm lại ngài giúp đỡ những ai cần thiết”. Ngài còn nói về cộng đoàn của mình như sau: “Chúng tôi luôn nhắc nhớ nhau về việc này. Người có của chăm sóc cho kẻ thiếu thốn, và chúng tôi giữ với nhau như thế[1]
Còn thánh Gio-an Kim khẩu khi nói về bí tích Thánh Thể thì ngài cũng nhấn mạnh đến bí tích này như là một đạo đức xã hội. Đó là việc chia sẽ cho người thiếu thốn, không được khinh chê và sỉ nhục người nghèo vì Đức Ki-tô đã hiến mình cho tất cả chúng ta. Cái nhìn của thánh Gio-an Kim Khẩu không phải là cái nhìn giảm thiểu về bí tích nhưng nó cho thấy chiều kích nhập thể của bí tích. Đó không chỉ là một bí tích để ta chiêm ngưỡng và lãnh nhận mà thôi nhưng người lãnh nhận còn có trách nhiệm làm cho bí tích được hoàn trọn trong trần thế bằng cách liên đới với những người nghèo để chính họ cũng thấy rằng mình được Đức Ki-tô hiến mình cho.
Điều này đã được Đức Gio-an Phao-lô II nhắc lại trong Tông Thư Dominicae Venae như sau: ý nghĩa chính xác của bí tích Thánh Thể, tự nó trở thành một trường học yêu thương hướng về tha nhân. Nếu việc tôn sùng Thánh Thể có giá trị đích thực, thì sẽ làm nảy sinh trong chúng ta ý thức về nhân phẩm của mọi người. Ý thức phẩm giá này trở thành lý do sâu thẳm nhất cho tương quan của chúng ta với tha nhân (số 6). Như vậy, việc cử hành và tôn sùng bí tích Thánh Thể không thể tách rời khỏi mối tương quan với tha nhân, nhất là với những người nghèo. Chính vì thế, Đức Giáo hoàng, qua Tông thư này đã gọi bí tích Thánh Thể là bí tích tình yêu, là nguồn mạch của đời sống đức ái. Lòng tôn sùng Thánh Thể sẽ phải đưa chúng ta đến việc thực thi đức ái (x. số 5).
Ngay nay, Giáo hội phát triển khắp nơi trên thế giới. Mỗi ngày, mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn đều cử hành tiệc Thánh Thể với một lễ vật và phẩm giá như nhau. Thế nhưng sau đó, mỗi người sẽ phải đối diện với những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống của mình. Những hoàn cảnh đôi khi trái ngược và bất công. Thậm chí đôi khi ngay trong một giáo xứ, một cộng đoàn cũng đã có sự phân biệt như thế rồi. Liệu những người nghèo có tự tin đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể như một thành viên chính thức với đầy đủ quyền lợi và phẩm giá hay không; Hay họ đến với thái độ e dè, sợ sệt hay họ được nhìn dưới những ánh mắt khinh khi, coi thường? Liệu những người nghèo có thực sự cảm thấy mình được liên đới?
Trong thánh lễ chúng ta đã có những lời nguyện xin đặc biệt cho những người nghèo, chẳng hạn như trong kinh nguyện Thánh Thể cầu cho Hội thánh trên đường hợp nhất có lời nguyện như sau: Xin Chúa mở mắt chúng con để chúng con nhận biết những nhu cầu của anh chị em, xin Chúa khơi gợi cho chúng con những lời nói và việc làm, để chúng con giúp sức cho những người làm lụng vất vả và gồng gánh nặng nề, xin cho chúng con chân thành phục vụ họ theo mẫu gương và lệnh truyền của Đức Ki-tô. Vấn đề còn lại là việc chúng ta thực thi điều đó trong cuộc sống hằng ngày bằng sự quan tâm, nâng đỡ để người nghèo cảm thấy họ thực sự thuộc về Giáo hội và Giáo hội thực sự là Giáo hội của người nghèo.
Công đồng chung Va-ti-ca-nô II cũng đã thấy rõ một khung cảnh đầy lo âu và hy vọng: Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, vậy mà tới nay, một phần rất lớn nhân loại trên thế giới đang quằn quại vì đói ăn và thiếu thốn, rồi không biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù chữ.[2] Sự phân cách giàu nghèo không chỉ xảy ra trên bình diện quốc tế mà thôi nhưng còn cả trong từng quốc gia, giáo xứ và cộng đoàn. Chính vì thế Công đồng đưa ra định hướng: Của cải trần gian là để cho mọi người hưởng dụng. Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền xử dụng của mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho tất cả mọi người một cách hợp lý theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái.[3] Trước con số quá lớn những người đói khổ trong thế giới, Thánh Công Ðồng thiết tha kêu gọi mọi người hoặc mọi chính quyền hãy nhớ lại lời sau đây của các Giáo Phụ: “hãy cho kẻ sắp chết đói của ăn, vì nếu không cho họ ăn tức là đã giết họ”. Tùy theo khả năng, họ nên thực sự san sẻ và dùng của cải của mình đặc biệt để giúp phương tiện cho mỗi người hoặc cả một dân tộc để chính họ có thể tự túc và phát triển.
Theo lời dạy của Công đồng, mỗi người cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc liên đới, chia sẻ của cải với người khác, đặc biệt là những người nghèo. Có như thế chúng ta mới cho ý nghĩa của bí tích Thánh Thể nên trọn vẹn trong cuộc sống thường ngày vì Đức Ki-tô đến thế gian là để liên đới và trao hiến bản thân cho tất cả mọi người, đặc biệt, những người nghèo luôn có chỗ đứng đặc biệt trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa.
2.      Liên đới với người vắng mặt
Bên cạnh việc liên đới với người nghèo, bí tích Thánh Thể còn được xét trong trong sự liên đới với những người vắng mặt. Những người vắng mặt ở đây có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và với nhiều lý do khác nhau. Đó có thể là sự vắng mặt thể lý, là sự vắng mặt tinh thần (cùng niềm tin nhưng không hiệp thông, xa rời cộng đoàn), và cũng có thể là sự vắng mặt tâm linh (khác niềm tin hay chưa tin). Vắng mặt có thể do hoàn cảnh cuộc sống khó khăn, do bệnh tật hay do đang gặp khủng hoảng.
Đức Giê-su đến để cứu rỗi toàn thể nhân loại. Máu Người đổ ra trên thập giá là cho tất cả mọi người. Người đã muốn mời gọi tất cả nhân loại đến dự tiệc cưới Nước Trời và chính vì thế, Thánh Thể Người để lại cho Giáo hội cũng là để trao ban cho tất cả mọi người như là lương thực trên con đường tiến về quê hương vĩnh cữu. Ý thức được điều đó, Giáo hội ngay từ thời sơ khai đã đề cập đến việc mang “của ăn đàng” này đến cho những người vắng mặt trong cuộc hội họp cộng đoàn.
Thánh Justinô đã tường thuật lại việc làm này như sau: Sau khi làm phép Rửa cho người đã tin và đã gia nhập cộng đoàn, chúng tôi đưa người đó đến nơi tụ họp các người chúng tôi gọi là anh em của chúng tôi. Chúng tôi sốt sắng cùng nhau cầu nguyện cho chính chúng tôi, cho người vừa được giác ngộ, cho tất cả mọi người ở bất cứ nơi đâu, để chúng tôi, sau khi học hỏi chân lý, được ơn làm những việc lành và tuân giữ các giới răn sao cho đạt được ơn cứu độ đời đời. Kinh nguyện xong, chúng tôi hôn nhau chúc nhau bình an. Sau đó người ta đem đến cho vị chủ tọa của các anh em bánh và một chén có nước và rượu. Người cầm lấy, dâng lời ngợi khen và tôn vinh Đấng là Cha vũ trụ nhân danh Chúa Con và Chúa Thánh Thần, sau đó Người đọc lên một kinh Tạ ơn dài vì tất cả các hồng ân mà chúng tôi nhận được từ Thiên Chúa. Khi vị chủ tọa đã tạ ơn, và toàn dân đã đáp lại, các thừa tác viên mà chúng tôi gọi là phó tế phân phát cho mỗi người có mặt bánh, rượu và nước đã thánh hiến, và cũng đem phần cho những kẻ vắng măt.[4] Như vậy, ngay từ thời kỳ đầu của Giáo hội, phân phát Thánh Thể (bánh và rượu đã thánh hiến) đã là phận vụ riêng của các phó tế. Những người vắng mặt không bị bỏ quên trong các buổi hội họp cộng đoàn.
Những người vắng mặt trước hết phải được hiểu là các bệnh nhân và những người già cả. Vì bệnh tật, hay tuổi tác, họ không thể hiện diện thể lý cùng cộng đoàn. Tuy vậy, trong tinh thần hiệp thông, họ vẫn hướng về cộng đoàn và cộng đoàn vẫn hướng về họ. Chính vì thế, họ luôn được nhớ tới và được dành phần riêng để không bị thiệt thòi. Cũng chính vì nhu cầu “của ăn đàng” cho những người vắng mặt này mà trong Giáo hội dần hình thành việc lưu giữ Mình Thánh Chúa trong các nhà Tạm.
Tuy nhiên, trong chiều kích rộng nhất của sự liên đới, chúng ta không chỉ liên đới với những người vắng mặt thể lý mà thôi nhưng còn là liên đới với những người vắng mặt tinh thần hay tâm linh nữa. Vì thế, mỗi khi cử hành thánh lễ, không phải là chỉ vị chủ tế với cộng đoàn đang hiện diện mà thôi nhưng đó là một sự hiệp thông liên đới với toàn thể Hội thánh, và dĩ nhiên không thể bỏ qua những chi thể của Hội thánh nhưng đang bị một tổn thương nào đó ngăn cản họ. Trong Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia, Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng đầ cập đến sự liên đới này như sau: Hy tế Thánh Thể, dù luôn được cử hành tại một cộng đoàn cụ thể, không bao giờ là việc cử hành của một mình cộng đoàn đó mà thôi. Quả vậy, khi nhận lãnh sự hiện diện Thánh Thể của Chúa, cộng đoàn cũng nhận lãnh toàn bộ hồng ân cứu độ và tỏ lộ rằng, dù trong một dạng thức tồn tại hữu hình nhất định, nó là hình ảnh và là sự hiện diện thật sự của Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Từ đó dẫn đến hệ quả là một cộng đoàn Thánh Thể thực sự không thể khép kín vào chính mình, như thể tự mình là đủ; trái lại cộng đoàn ấy cần hòa hợp với các cộng đoàn Công Giáo khác.[5]
Không chỉ dừng lại nơi toàn thể Hội thánh mà thôi, Thông điệp còn mở rộng sự liên đới ra toàn thể thế giới: Nhờ kết hiệp với Đức Kitô, Dân của Giao ước Mới, thay vì khép kín, đã trở thành một “bí tích” cho nhân loại, một dấu chỉ và khí cụ mang lại ơn Cứu độ mà Đức Kitô đã thực hiện, ánh sáng cho thế giới và muối cho trần gian (x. Mt 5,13-16), nhằm cứu chuộc mọi người.[6]
Trong thánh lễ, chúng ta cũng có những lời cầu đặc biệt cho những thành phần thường vắng mặt trong chính các thành lễ đó. Những lời cầu này thường liên kết với bí tích Thánh Thể để cho thấy chính bí tích cực trọng này là nguồn mạch nói lên sự liên đới và nâng đỡ này. Chẳng hạn để liên đới với những tín hữu đang bị bạch hại, Hội thánh có lời nguyện hiệp lễ như sau: Lạy Chúa, xin cho bí tích chúng con vừa lãnh nhận củng cố lòng tin của cộng đoàn dân thánh. Xin giúp các anh chị em chúng con đang trải qua cơn thử thách ngặt nghèo biết can đảm vác thập giá đi theo Đức Ki-tô; và trước mặt người thế, dám hiên ngang nhận mình là Ki-tô hữu mà không hề hổ thẹn.
Với các bệnh nhân, Hội thánh kết hợp những lời cầu xin cho các bệnh nhân với lễ vật dâng tiến để đoái xin Thiên Chúa thương chấp nhận qua lời nguyện tiến lễ như sau: Lạy Chúa, Chúa lấy tình phụ tử bao bọc chúng con, qua hết mọi thăng trầm của cuộc sống. Xin chấp nhận lễ vật chúng con dâng để cầu cho anh chị em yếu đau bệnh tật. Ước gì những lo lắng buồn phiền của chúng con vì tình trạng sức khỏe của họ, mau biến thành niềm vui và thành lời kinh cảm tạ Chúa. Và lời nguyện hiệp lễ cầu cho bệnh nhân thì nói: Lạy Chúa, Chúa để tâm săn sóc chúng con khi ban cho chúng con bánh đem lại sự sống muôn đời. Xin cũng để tâm săn sóc các anh chị em yếu đau bệnh tật. Ước gì thánh lễ này ban cho chúng con thêm lòng bác ái để chúng con hết tình lo cho anh em, nâng đỡ tinh thần họ, giúp họ mau tìm lại sức khỏe nếu đó là điều đẹp lòng Chúa.
Với toàn thể nhân loại, Hội thánh liên đới qua lời cầu xin cho các dân tộc được phát triển và có được bình an hóa thuận bên nhau: Lạy Chúa, chúng con đã tìm được sức mạnh nơi bàn tiệc thánh thể, đó là tiệc Chúa ban để quy tụ gia đình nhân loại. Xin Chúa cho bí tích chúng con vừa lãnh nhận đem lại cho chúng con một tình yêu mãnh liệt và tinh tuyền giúp chúng con tích cực góp phần vào công cuộc phát triển các dân tộc, được vậy, chúng con sẽ có thể xây dựng một xã hội công bình hơn nhờ tinh thần bác ái Ki-tô giáo.
Kết luận
Bí tích Thánh Thể tự bản chất mang tính liên đới, đó là sự liên đới của Con Thiên chúa trong việc nuôi dưỡng dân Người và ban cho dân Người lương thực trên đường tiến về quê trời. Ta cũng có thể tìm được chiều kích liên đới này qua lời dạy của các Giáo phụ, của huấn quyền Hội thánh và đặc biệt trong việc cử hành phụng vụ. Điều quan trọng là làm sao để chiều kích liên đới này ngày càng được thể hiện rõ nét hơn trong cử hành cũng như trong thực hành đời sống. Để rõ hơn trong việc cử hành, cần có thêm nhiều suy tư và hướng dẫn của các đấng có thẩm quyền và trách nhiệm. Để thực hành trong đời sống, cần có sự dấn thân của mọi tín hữu. Mỗi người phải ý thức trách nhiệm liên đới của mình, của cộng đoàn mình với tha nhân, đặc biệt là với những người nghèo, những người ốm đau bệnh tật. Có như vậy thì việc cử hành và rước Thánh Thể mỗi ngày của chúng ta mới đạt được trọn vẹn ý nghĩa, tức là nhờ được nuôi dưỡng bởi thần lương Thiên Chúa ban, mỗi người chúng ta có trách nhiệm làm cho ơn ích của thần lương đó sinh thêm hiệu hiệu quả qua đời sống bác ái của mình. Ngõ hầu mọi thành phần dân Chúa đều nhận được lương thực nuôi sống trên đường lữ hành tiến về quê trời.





[1] Trích lại trong Giáo trình, trang 209.
[2] Gs, số 4.
[3] Gs, số 69.
[4] Xc. Koch, Bearbeitet V. Günter, Bí tích học qua các tác giả, Köln, 1991, tr. 443.
[5] Xc. Gio-an Phao-lô II, Ecclesia de Eucharistia, số 39.
[6] Xc. Gio-an Phao-lô II, Ecclesia de Eucharistia, số 22.

Phụng vụ và việc hội nhập văn hóa tại Việt Nam


Phụng vụ là hoạt động cao nhất, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực cho Giáo hội. Ý thức được chức năng cao cả cũng như lợi ích của việc cử hành Phụng vụ, đồng thời để cho giáo dân tham dự cách tích cực và hiệu quả hơn, Giáo hội đã muốn thực hiện một cuộc canh tân trong Phụng vụ. Việc canh tân này được thể hiện qua việc sử dụng tiếng địa phương cũng như cho phép thích nghi các nghi thức với đặc tính của dân tộc, nhất là trong những miền truyền giáo (x. SC, số 36-40).
Tinh thần canh tân của Công đồng Va-ti-ca-nô II đã được thực hiện vào thời hậu Công đồng với những chỉ dẫn áp dụng cụ thể. Bài viết này sẽ tìm hiểu những chỉ dẫn này cũng như những áp dụng mang tính hội nhập tại Việt Nam.
1.        Những chỉ dẫn về việc thích nghi Phụng vụ[1]
Tinh thần thích nghi Phụng vụ được Công đồng Va-ti-ca-nô II tập trung triển khai trong các số từ 36-40 của hiến chế về Phụng vụ thánh (SC). Tinh thần này được Bộ Phụng Tự và kỷ luật các bí tích triển khai qua Huấn thị ngày 25.1.1994. Công Đồng nói đến việc “thích nghi” trong Phụng vụ, nhưng Huấn Quyền sau này đã xử dụng cụm từ “Hội nhập Văn hóa” với ý nghĩa “Đem Tin Mừng nhập thể vào những nền văn hóa địa phương, đồng thời đưa những nền văn hóa ấy vào đời sống Giáo Hội”. Huấn thị gồm những điểm chính yếu sau.
ü  Những điều kiện cho việc hội nhập văn hóa
Việc hội nhập văn hóa trong Phụng vụ trước hết phải khởi đi từ chính những bản văn Kinh Thánh (x. Huấn thị số 28). Thực vậy, Kinh Thánh giữ một vai trò rất quan trọng trong việc cử hành Phụng vụ, do đó việc dịch Kinh Thánh, hay ít ra là những bản văn Kinh Thánh đọc trong Phụng vụ là điều kiện đầu tiên giúp cho người bản địa hiểu được tinh thần của buổi cử hành Phụng vụ.
Điều kiện thứ hai là phải xem xét hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội địa phương để thẩm định mức độ cần thiết của việc hội nhập văn hóa (x. Huấn thị số 29). Để thẩm định, Hội đồng Giám Mục cần phải nhờ những người có thẩm quyền về truyền thống Phụng vụ Rôma. Hơn nữa, huấn quyền cần phải đánh giá đúng về giá trị của những yếu tố trong nền văn hóa địa phương; cần có những cuộc nghiên cứu sâu rộng về phương diện lịch sử, nhân học, ngôn ngữ và thần học cũng như tham khảo kinh nghiệm của hàng giáo sĩ địa phương, nhất là của những giáo sĩ sinh trưởng tại đó (x. Huấn thị số 30).
ü  Trách nhiệm của Hội Đồng Giám Mục
Chỉ có Hàng Giáo phẩm mới đủ thẩm quyền để đánh giá xem những gì thuộc truyền thống và văn hóa địa phương có thể đưa vào Phụng vụ. hơn nữa, trước khi thay đổi, cần phải giới thiệu và có thời gian thử nghiệm trước (x. Huấn thị số 31-32). Hiến chế về Phụng vụ thánh đã trao cho Hội đồng Giám mục những nhiệm vụ sau:
 i.          Sử dụng tiếng địa phương trong Phụng vụ (PV 36)
ii.          Thích  ứng các nghi thức với tinh thần và tập tục địa phương (PV. 27-30,77,110-111,119)
iii.          Chuẩn nhận những yếu tố thiết lập nghi thức khai tâm Kitô giáo trong xứ truyền giáo (PV 65)
iv.          Thích ứng năm Phụng vụ theo điều kiện địa phương (PV 107)
v.          Thẩm quyền về nhạc điệu dân tộc (PV.119)
vi.          Cho phép sử dụng những nhạc khí khác với phong cầm khi cử hành Phụng vụ (PV 120)
vii.          Thích ứng những hình thức bên ngoài của Phụng vụ cho hợp với nhu cầu và phong hóa địa phương (PV.128.132-133)
Tuy vậy, việc hội nhập cần giữ tính thống nhất của Nghi lễ Rôma vì hội nhập không nhằm thiết lập những Nghi lễ mới.
ü  Những điều được phép thích nghi
Huấn thị cũng đưa ra những điều được phép thích nghi trong Phụng vụ như: Ngôn ngữ, âm nhạc truyền thống (hình thức, điệu nhạc và nhạc khí), những cử chỉ và thái độ bên ngoài, nghệ thuật và kiến trúc. Sau cùng là những thích nghi được ghi trong các sách Phụng vụ, như Sách lễ Rôma, sách các nghi thức gia nhập Kitô giáo, nghi thức hôn phối, tang chế, việc ban phép lành, Phụng vụ giờ kinh, v.v.. (x. Huấn thị từ số 54-61).
ü  Thủ tục áp dụng những thích nghi trong các sách Phụng vụ
Hiến chế cũng như Huấn thị xác định, khi Hội đồng Giám mục soạn thảo để ấn hành những sách Phụng vụ riêng, Hội đồng phải phát biểu ý kiến về bản dịch và những cách thích nghi đã được dự liệu theo đúng giáo luật (đ. 455§2 & 838§3). Các văn kiện của Hội đồng, dựa vào kết quả đầu phiếu, phải được chủ tịch và thư ký của Hội đồng ký tên và gởi cho Bộ Phụng Tự kèm theo hai mẫu đầy đủ về đề án đã được chuẩn nhận.
Ngoài ra, trong khi chuyển giao toàn bộ hồ sơ, cần thực hiện các điều lệ sau đây:
 i.          Phải trình bày cách vắn gọn nhưng chính xác những lý do của từng trường hợp được thích nghi.
ii.          Cũng phải nói rõ những phần nào được vay mượn từ các sách Phụng vụ khác đã được chuẩn nhận và những phần nào là những phần mới được soạn thảo (x. Huấn thị từ số 62).
Trên đây là những chỉ dẫn cụ thể trong Huấn thị của Bộ Phụng Tự và kỷ luật các bí tích về việc hội nhập văn hóa trong Phụng vụ, dựa theo tinh thần của Hiến chế về Phụng vụ Thánh. Phần tiếp theo sẽ tìm hiểu những hội nhập trong Phụng vụ tại Giáo hội Việt Nam. Những hội nhập này chủ yếu thể hiện qua các ngày lễ truyền thống của dân tộc cũng như về thánh nhạc, nghệ thuật thánh và dụng cụ thánh.
2.        Hội nhập văn hóa trong Phụng vụ tại Việt Nam
2.1.   Các ngày lễ truyền thống
Hội thánh ý thức được những nhu cầu phong phú của thời đại và của con cái mình, do đó, trong lễ quy Rôma, có các nghi thức riêng và các lễ tùy nhu cầu với các bài đọc cũng như các lời nguyện riêng (QCTQ, 327-329). Ý thức tầm quan trọng của việc hội nhập các ngày lễ truyền thống vào Phụng vụ, năm 1992, Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định đưa một số lễ vào trong lịch Phụng vụ tại Việt Nam, gồm có ba ngày tết Nguyên đán và ngày tết Trung thu.[2]
Trong tinh thần đó, những ngày tết dân tộc không còn đơn thuần là những ngày tết truyền thống tốt đẹp nữa mà còn là những ngày xuân giúp con người hướng về thiên quốc là nơi có mùa xuân bất tận với sự hiện diện của Thiên Chúa. Trong ngày đầu năm mới này người ta thường chúc nhau những điều tốt đẹp nhất, với người Công giáo, còn điều gì tốt đẹp cho bằng sự bình an vì có Chúa ở cùng. Do đó, ngay ngày đầu năm, Giáo hội đặc biệt dâng thánh lễ để cầu xin và cầu chúc bình an cho nhau. Trong tâm tình đó mà lời nguyện nhập lễ của ngày mồng một tết Nguyên đán được soạn ra như sau: Lạy chúa từ bi nhân hậu, trong ngày đầu năm mới chúng con họp nhau đây để dâng lời chúc tụng ngợi khen Chúa. Cúi xin Chúa mở lượng hải hà, ban cho hết mọi người chúng con trong năm mới này được bình an mạnh khỏe, càng thêm tuổi càng thêm nhân đức hầu đáng hưởng phúc lộc dồi dào.[3]
Theo truyền thống, ngày mồng một tết là ngày chúng ta mừng tuổi nhau. Con cháu chúc ông bà, cha mẹ, thêm tuổi thêm khỏe mạnh để sống lâu dài bên con cháu; ông bà cha mẹ chúc con cháu thêm tuổi thêm khôn ngoan, thành đạt. Đó là những ước muốn tốt lành trong một truyền thống tốt đẹp. Giáo hội tại Việt Nam cũng đưa tinh thần đó vào trong ngày lễ mồng một tết với nghi thức chúc mừng đơn giản của Cha xứ hay của vị đại diện dân Chúa, có nơi tiến hành những nghi thức trang trọng hơn với nghi thức ngũ bái mừng tuổi Chúa. Nghi thức ngũ bái có thể tóm tắt như sau:
Nghi thức diễn ra vào đầu lễ. Sau từng lời của người đọc văn tế, linh mục cùng với đoàn rước sẽ bái và cắm hương. Ngũ bái gồm nhất bái dành cho Chúa Cha, nhị bái dành cho Chúa con và tam bái dành cho Chúa Thánh Thần. Trong ba lần bái Chúa có thể cắm hương sau mỗi lần bái. Tứ bái dành cho Đức Mẹ và các thánh. Ngũ bái dành cho ông bà tổ tiên. Hai bái sau có thể chỉ vái hay xá và không cắm hương. Cách thức bái phải theo nhịp điệu của tiếng mõ, chiêng và trống.[4]
Ngũ bái coi như là nghi thức mừng tuổi Chúa. Sau khi mừng tuổi Chúa rồi thì Cộng đoàn giáo xứ có thể chúc tuổi nhau. Một vài giáo xứ còn có phần múa lân trong lúc này để thể hiện niềm vui của ngày đầu năm. Trong thánh lễ này thường có phần hái lộc. Đây được xem như là lộc của Chúa ban cho nhân dịp đầu năm.
Kính nhớ ông bà tổ tiên là một truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Á Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng. Do đó ngay trong ngày mồng hai, Giáo hội Việt Nam dâng thánh lễ để kính nhớ và cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Tâm tình của Giáo hội trong ngày này được thể hiện qua lời nguyện nhập lễ như sau: Lạy Chúa là Cha rất nhân từ, Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay nhân dịp đầu năm mới chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các ngài.[5]
Để cụ thể tâm tình này, một số Giáo xứ cử hành nghi thức kính nhớ ông bà tổ tiên vào đầu thánh lễ. Nghi thức thường như sau: linh mục và đoàn dâng lễ vật tiến đến trước bàn thờ tổ tiên, sau khi nghe một bài văn tế với nghi thức cúc cung bái theo tiếng mõ và trống chiêng, sau đó thì đến phần dâng lễ vật. Lễ vật thường gồm có: trà, rượu, hoa quả, bánh trái, hương. Nghi thức thường kết thúc với bài hát về kính nhớ tổ tiên.
Ngày mồng ba tết, Giáo hội hướng tâm tình cầu nguyện đến công ăn việc làm. Người Việt Nam quan niệm khởi đầu năm mới tốt đẹp thì cả năm sẽ tốt đẹp. Trong tâm tình đó, những ngày đầu năm Giáo hội muốn con cái mình hướng về Chúa là Đấng sáng tạo mọi sự tốt đẹp cho con người hưởng dùng để xin Ngài cũng tiếp tục thánh hóa sức lao động con người bỏ ra để mang lại hiệu quả tốt đẹp. Tâm tình này thể hiện qua lời nguyện nhập lễ như sau: Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho con người phải lao động để làm chủ thiên nhiên. Xin cho chúng con được thấm nhuần tinh thần ki-tô giáo, để công ăn việc làm của chúng con trong năm mới này nêu cao tình tương thân tương ái, và góp phần vào sự nghiệp chung là hoàn thành chương trình sáng tạo của Chúa.[6]
Trong thánh lễ này, vài giáo xứ có tổ chức việc làm phép các dụng cụ lao động cũng như các phương tiện làm ăn. Đây là một nghi thức ý nghĩa nhằm giúp người tín hữu biết tin tưởng, phó thác vào Chúa và nhận ra ý nghĩa đích thực của việc lao động.
Bên cạnh ba ngày tết truyền thống, còn có một số ngày lễ khác đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam đưa vào lịch Phụng vụ của Giáo hội Việt Nam như ngày lễ Trung thu cầu cho các em thiếu nhi. Năm 1990, theo đơn xin của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép đem vào lịch chung của Giáo Hội lễ thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục, và các bạn tử đạo, mừng vào ngày 24 tháng 11, với bậc lễ nhớ.
Vì theo chu kỳ hai hoặc ba năm, thứ tư Lễ Tro thường trùng với các ngày Tết Nguyên đán tại Việt Nam, nên Hội đồng Giám mục Việt Nam đã xin Toà Thánh để có thể dịch nghi lễ làm phép Tro và xức Tro, cũng như ngày ăn chay vào thứ sáu, hoặc thứ bảy sau Lễ Tro. Ngày 26-11-1998, Bộ Phụng tự đã đồng ý cho Hội đồng Giám mục Việt Nam được cử hành lễ làm phép và xức Tro vào thứ sáu, hoặc thứ bảy sau Lễ tro, cũng như việc ăn chay kiêng thịt vào hai ngày trên.
Ngoài ra, một số bản dịch Nghi thức cử hành Thánh lễ (Ordinarium Missae) Lễ Quy Rôma (Canon Romanus) hay các nghi thức theo ngôn ngữ của vài dân tộc thiểu số cũng đã được Tòa thánh phê chuẩn và được phép xử dụng trong Phụng vụ như: tiếng Churu (1966), tiếng K’Ho (1966), tiếng Bahnar (1968).
2.2.   Thánh nhạc, nghệ thuật thánh và dụng cụ thánh
Hiến chế về Phụng vụ Thánh đã dành hai chương VI và VII để nói về Thánh nhạc (số 112-121), nghệ thuật thánh và dụng cụ thánh (122-130). Quy chế tổng quát sách lễ Rôma cũng dành hai chương V và VI để nói về cách xếp đặt, trang trí thánh đường và những gì cần phải có để cử hành thánh lễ. Các phần này trình bày rất rõ những yếu tố nào được phép thích nghi với văn hóa địa phương và thích nghi như thế nào. Ở đây không trình bày lại những hướng dẫn tổng quát nhưng chủ yếu đưa ra những yếu tố mang sắc thái riêng của Giáo hội Việt Nam hay ít là của một số vùng miền trong lãnh thổ Việt Nam.
ü Thánh nhạc: Ở việt Nam, một số bài hát có âm điệu dân ca cũng đã được sáng tác và được phép xử dụng trong Phụng vụ, tuy rằng số lượng chưa nhiều nhưng nó cũng cho thấy ý thức hội nhập của Giáo hội Việt Nam trong thánh nhạc. Với một số giáo phận có nhiều tín hữu người dân tộc thiểu số, các bài hát trong Phụng vụ cũng đã được chuyển ngữ sang tiếng địa phương hay được sáng tác bằng ngôn ngữ địa phương. Bên cạnh những nhạc khí xử dụng quen thuộc trong Phụng vụ, một số nhạc cụ khác cũng đã được đưa vào xử dụng, chẳng hạn như cồng chiêng ở Tây nguyên.
Ngoài ra, sự kết hợp giữa âm nhạc và cử điệu cũng rất cần thiết để diễn tả tâm tình của con người trong việc thờ phượng Thiên Chúa. Chính vì vậy, các điệu vũ cũng được kết hợp trong khi hát các kinh trong bộ lễ, đặc biệt là các thánh lễ long trọng tại giáo phận Kon Tum. Tuy nhiên cũng cần tránh những lạm dụng thái quá, chẳng hạn như quá chú tâm vào các vũ điệu mà làm mất đi tâm tình thờ phượng Chúa.
ü Nghệ thuật thánh: Hội thánh cũng công nhận mỹ thuật của mỗi địa phương và tiếp nhận những cách thích nghi hợp với não trạng và truyền thống của mỗi dân tộc, miễn là mỹ thuật phải đơn sơ, trang nhã. Nghệ thuật này được thể hiện qua cách xây dựng và bố trí ngôi thánh đường, qua chất liệu và hình thức các vật dụng xử dụng trong thánh lễ cũng như phẩm phục của các thừa tác viên. Đặc biệt là hoa văn trong Phụng vụ. Một số nơi khăn trải bàn thờ, phẩm phục của thừa tác viên có thêu những hoa văn quen thuộc đặc trưng của từng vùng, chẳng hạn như hoa văn của các dân tộc thiểu số. Việc làm này sẽ tạo cho tín hữu cảm giác thân thuộc gần gũi khi tham gia nghi thức Phụng vụ.
ü Các dụng cụ thánh: các dụng cụ xử dụng trong Phụng vụ được thích nghi với văn hóa của Việt Nam rất nhiều. Chẳng hạn như việc xử dụng lư hương và nhang thay cho hương trầm. Tuy trong một số trường hợp, việc xử dụng nhang không nói lên hết ý nghĩa của việc cử hành nhưng việc cắm nhang cũng là một hình ảnh rất quen thuộc và gần gũi với tín hữu Việt Nam. Một số dụng cụ khác cũng mang tính chất việt như chiêng, trống, mõ, lá dừa, v.v..
Kết luận:
Rõ ràng, việc hội nhập văn hóa trong cử hành Phụng vụ có tầm rất quan trọng, nó giúp cho người tín hữu cảm thấy gần gũi hơn với tâm tình và tâm thức tâm linh ngay trong chính quê hương của mình. Tuy thế cũng có vài điểm cần lưu ý trong quá trình hội nhập này. Thứ nhất, như Công đồng khẳng định, Phụng vụ của Giáo Hội không được xa lạ đối với bất cứ quốc gia, dân tộc hay cá nhân nào, nhưng đồng thời cũng phải vượt trên tính chất riêng tư của các chủng tộc và các quốc gia (x. Huấn thị, số 18). Do vậy, việc hội nhập văn hóa trong Phụng vụ phải được chọn lọc kỹ càng và phải được sự cho phép của các vị có trách nhiệm trong Giáo hội như Tòa Thánh, Hội Đồng Giám mục và Giám mục giáo phận.
Cần phải lưu tâm, không để cho việc hội nhập văn hóa mang tính cách hòa đồng tôn giáo. Với những xứ có nhiều nền văn hóa khác nhau, cần tránh nguy cơ việc hội nhập ngăn cách các cộng đoàn với nhau, cần phải tìm được sự quân bình để tôn trọng những quyền lợi riêng biệt của các nhóm, các bộ lạc mà vẫn không làm cho các lễ nghi Phụng vụ trở thành cá biệt một cách thái quá.
Mục đích của việc hội nhập văn hóa vào Phụng vụ là để giúp diễn tả tinh thần Phụng vụ một cách rõ ràng và giúp giáo dân dễ hiểu mà tham dự Phụng vụ một cách tích cực và hiệu quả hơn. Do đó cần tránh những hình còn mơ hồ chưa rõ ràng hay tránh việc hội nhập thái quá. Cần hết sức cân nhắc trước khi đưa một yếu tố văn hóa hội nhập vào trong việc cử hành Phụng vụ để sao cho việc hội nhập thực sự giúp nâng tâm hồn người tín hữu lên gần Chúa.







[1] Xc. Trần Đình Tứ, Phụng vụ nhập môn (TP.HCM: ĐCV Giuse, 1998), tr. 98-113.
[2] Xc. ủy ban Phụng tự, hội đồng giám mục Việt Nam, Phụng tự tại Việt Nam trong 50 năm qua (1960-2010), http://www.hdgmvietnam.org/phung-tu-tai-viet-nam-trong-50-nam-qua-1960-2010-1/2363.103.12.aspx
[3] Xc. Sách lễ Rôma, 1992, tr.1040.
[4] Một số nơi củng cử hành nghi thức ngũ bái nhưng đối tượng có chút thay đổi như nhất bái dành cho Chúa Ba Ngôi, nhị bái cho đức mẹ, tam bái cho thánh Giuse, tứ bái cho các thánh và ngũ bái cho ông bà tổ tiên.
[5] Sách lễ Rôma, 1992, tr.1042.
[6] Sđd, tr.1044.